36. Sớ Cúng Vợ II
(Mộng Đoạn Nam Kha)
Nguyên văn:
伏以
夢斷南柯、永隔幽關之路、投誠西域、願憑濟渡之門、俯歷丹誠、仰于玄鑒。疏爲越南國...省...縣[郡]...社...村、家堂奉
佛修香設供諷經...事。今弟子...等、惟日拜干
大覺能仁、俯垂炤鑒。
奉爲...之香靈。仝承
佛法以弘深、全賴經文而解脫。竊念、鸞房影寂、蕙帳緣空、室中不覩音容、座上無聞影響、惜乎逝水長歸、痛也春花急謝。兹者本月是日、適臨諱禮、弟子虔誠、和南拜奏
南無十方常住三寶一切諸佛作大證明。
南無接引導師阿彌陀佛作大證明。
南無大悲靈感應觀世音菩薩作大證明。
南無大悲大願地藏王菩薩作大證明。筵奉、護法諸天、護敎善神、一切眞宰、仝垂憐憫、共接徃生。伏願、便登覺岸、禮觀音大士之容、長向雪山、侍摩耶夫人之側。仰賴
佛恩、證明之不可思議也。謹疏。
佛曆...歲次...年...月...日時、弟子眾等和南上疏
(疏)奉 白佛金章 弟子眾等和南上疏
Phiên âm:
Phục dĩ
Mộng đoạn Nam Kha,1 vĩnh cách u quan2 chi lộ; đầu thành Tây Vức,3 nguyện bằng tế độ chi môn; phủ lịch đơn thành, ngưỡng vu huyền giám.
Sớ vị: Việt Nam quốc ... Tỉnh … Huyện (Quận) … Xã … Thôn, gia đường phụng Phật tu hương thiết cúng phúng kinh .. sự. Kim đệ tử … đẳng. Duy nhật bái can đại giác năng nhân, phủ thùy chiếu giám.
Phụng vị … chi hương linh.
Đồng thừa Phật pháp dĩ hoằng thâm, toàn lại kinh văn nhi giải thoát.
Thiết niệm: Loan phòng4 ảnh tịch, huệ trướng5 duyên không; thất trung bất đổ âm dung, tòa thượng vô văn ảnh hưởng; tích hồ thệ thủy6 trường quy, thống dã xuân hoa cấp tạ. Tư giả bổn nguyệt thị nhật, thích lâm húy lễ, đệ tử kiền thành, hòa nam bái tấu.
Nam Mô Thập Phương Thường Trú Tam Bảo Nhất Thiết Chư Phật tác đại chứng minh.
Nam Mô Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật tác đại chứng minh.
Nam Mô Đại Bi Linh Cảm Ứng Quan Thế Âm Bồ Tát tác đại chứng minh.
Nam Mô Đại Bi Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát tác đại chứng minh.
Diên phụng: Hộ pháp chư thiên, hộ giáo thiện thần, nhất thiết chơn tể, đồng thùy lân mẫn, cọng tiếp vãng sanh.
Phục nguyện: Tiện đăng giác ngạn, lễ Quan Âm Đại Sĩ chi dung; trường hướng Tuyết Sơn,7 thị Ma Da Phu Nhân8 chi trắc. Ngưỡng lại Phật ân, chứng minh chi bất khả tư nghì dã. Cẩn sớ.
Phật lịch ... Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời.
Đệ tử chúng đẳng hòa nam thượng sớ.
Dịch nghĩa:
Cúi nghĩ:
- dứt Nam Kha, mãi cách u quan nẻo tối; chí thành Tây Vức, nguyện nương cứu độ cửa huyền; cúi đầu chí thành, ngưỡng trên soi xét.
Sớ tâu: Nay tại Thôn …, Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh, nước Việt Nam; có gia đình thờ Phật, dâng hương tụng kinh ..., cầu nguyện siêu độ. Đệ tử ... hôm nay, ngưỡng mong Đại Giác Năng Nhân, xót thương chứng giám. Cầu nguyện:
Hương linh ...
Cùng nhờ Phật pháp thật rộng sâu, thảy nương kinh văn mà giải thoát.
Xót nghĩ: Loan phòng bóng vắng, màn the duyên không; trong nhà chẳng thấy dáng hình, trên tòa không nghe ảnh hưởng; tiếc thay nước chảy trôi hoài, đau xót hoa xuân sớm rụng. Nay gặp ngày nầy tháng ấy, đúng dịp húy kỵ, đệ tử tâm thành, một lòng lạy thỉnh:
Kính lạy Mười Phương Thường Trú Tam Bảo, hết thảy đức Phật, chứng giám cho.
Kính lạy Phật A Di Đà, vị thầy tiếp dẫn, chứng giám cho.
Kính lạy Bồ Tát Quan Thế Âm, Đại Bi Linh Cảm, chứng giám cho.
Kính lạy Bồ Tát Địa Tạng Vương, Đại Bi Đại Nguyện, chứng giám cho.
Cùng xin: Hộ pháp các trời, hộ giáo thiện thần, hết thảy chơn tể, rũ lòng thương xót, cùng tiếp vãng sanh.
Lại nguyện: Sớm lên bờ giác, lễ Quan Âm Đại Sĩ dung nhan; mãi hướng Tuyết Sơn, hầu Ma Da Phu Nhân bên chiếu. Ngưỡng lạy ơn Phật chứng minh, không thể nghĩ bàn. Kính dâng sớ.
Phật lịch ... Ngày ... tháng ... năm ...
Đệ tử chúng con thành kính dâng sớ.
Phần chú thích:
- Nam Kha (南柯): cành cây chầu về hướng nam. Ngoài ra, nó có nghĩa là giấc mộng Nam Kha, vốn xuất xứ từ Nam Kha Thái Thú Truyện (南柯太守傳) của Lý Công Tả (李公佐, ?-?) nhà Đường. Chuyện kể rằng có một chàng hiệp sĩ tên Thuần Vu Phần (淳于棼), nhà ở phía đông Quận Quảng Lăng (廣陵郡, nay là Dương Châu [揚州], Giang Tô [江蘇]). Tại phía nam nhà anh có một cây hòe cổ thụ lớn, anh thường cùng bạn bè ngâm nga uống rượu dưới gốc cây nầy. Có một hôm nọ, do uống quá say, hai người bạn phải dẫn anh về nhà, giữa đường anh hôn mê ngủ thiếp đi lúc nào không hay; chợt thấy có hai sứ giả mặc Tử Y, tự xưng là phụng mạng vua Hòe An Quốc (槐安國) đến mời anh đi. Họ dẫn anh lên xe, nhắm hướng cây hòe mà đi, vào trong động sâu, thấy núi sông, đường sá, hoàn toàn một thế giới riêng. Khi đến Hòe An Quốc, chàng hiệp sĩ vào bái kiến quốc vương và được nhà vua gả con gái Kim Chi Công Chúa (金枝公主) cho; Thuần Vu Phần do đó được phong chức Phò Mã và nhậm chức Thái Thú Quận Nam Kha (南柯郡); cho nên tại Hòe An Quốc, chàng tận hưởng vinh hoa phú quý. Tại chức trong vòng 20 năm, anh đã lập được nhiều công trạng, được nhà vua rất tín nhiệm. Sau có quân nước Đàn La (檀蘿) đến xâm chiếm, Thuần Vu Phần điều binh khiển tướng nghênh địch, nhưng đại bại và được nhà vua tha tội chết. Tuy nhiên, không bao lâu sau, vợ anh bị bệnh nặng qua đời; Vu Phần vô cùng đau xót, cáo bệnh từ quan và trở về kinh thành. Vì anh giao du rộng rãi, kẻ ra người vào tấp nập, tiếng tăm vang dậy, làm cho nhà vua nghi kỵ, ra lệnh tước đoạt hết các thị vệ và nghiêm cấm không cho giao du. Vu Phần uất ức không được vui trong lòng; cuối cùng nhà vua cho sứ giả đưa ông trở về nhà cũ. Vừa về đến nơi, thì anh tỉnh giấc mộng, thấy hai người bạn vẫn còn đó, bóng tà dương vẫn chưa khuất về Tây. Nhớ đến câu chuyện trong mộng, anh cùng hai bạn tìm huyệt động nơi gốc cây hòe, thì thấy bầy kiến lúc nhúc bên trong, tích chứa đất làm thành hình dáng giống như thành quách, cung điện, rất khớp với cảnh trong mộng. Hòe An Quốc là quốc gia kiến, Quận Nam Kha cũng như các nơi anh đã từng đi qua đều hiện rõ. Anh giật mình kinh hoàng, mới hay tất cả chỉ là một giấc mộng, cuộc đời và mạng người vô thường, ngắn ngủi; nhân đó, anh quy y với đạo môn, dứt tuyệt không uống rượu nữa và ba năm sau thì qua đời. Tác phẩm Nam Kha Thái Thú Truyện nầy cũng tương tự với Chẩm Trung Ký (枕中記) với câu chuyện Hoàng Lương Mộng (黃梁夢, Mộng Kê Vàng) của Lô Sanh (盧生). Dựa trên tác phẩm Nam Kha Thái Thú Truyện, sau nầy Thang Hiển Tổ (湯顯祖) nhà Minh có sáng tác Nam Kha Ký (南柯記). Bạch Ẩn Huệ Hạc (白隱慧鶴, 1685-1768), vị Thiền tăng của Lâm Tế Tông Nhật Bản cũng có trước tác bộ Hòe An Quốc Ngữ (槐安國語, Kaiankokugo, 2 quyển). Trong bài thơ Đề Thành Sơn Vãn Đối Hiên Bích (題城山晚對軒壁) của Phạm Thành Đại (范成大, 1126-1193) nhà Tống có câu: “Nhất chẩm thanh phong mộng lục la, nhân gian tùy xứ thị Nam Kha (一枕清風夢綠蘿、人間隨處是南柯, tựa gối gió thanh mơ lục la, trên đời có chỗ ấy Nam Kha).” Hay như trong Ngọc Trâm Ký (玉簪記), phần Trùng Hiệu (重效) của Cao Liêm (高濂, ?-?) nhà Minh cũng có câu: “Tùng giáo phân thủ xứ, hữu mộng thác Nam Kha (從敎分手處、有夢托南柯, theo lời đi khắp chốn, vói mộng gởi Nam Kha).” Viên Nhân Pháp Sư (圓因法師, 1910-2002) có sáng tác bài Nam Kha Nhất Mộng (南柯一夢) trong Mao Bồng Trát Ký (茅篷札記): “Tảo lộ phong đăng thiểm điện quang, tổng thị Nam Kha nhất mộng trường, nhân quy hà xứ thanh sơn tại, thanh sơn vô ngữ thán nhân vong (草露風燈閃電光、總是南柯夢一塲、人歸何處青山在,青山無語嘆人亡, sương sớm gió trong ánh chớp loang, thảy đều Nam Kha giấc mộng trường, người về nào chốn núi xanh đó, núi xanh lặng lẽ khóc người thương).” Trong Ngũ Đăng Hội Nguyên (五燈全書, CBETA No. 1571) quyển 43 có câu: “Thoát thân dĩ hiểu Nam Kha mộng, thỉ giác nhân gian vạn sự không, xuy khởi hoàn hương vô khổng địch, tịch dương tà chiếu bích vân hồng (脫身已曉南柯夢、始覺人間萬事空、吹起還鄉無孔笛、夕陽斜照碧雲紅, thoát thân mới hiểu Nam Kha mộng, tỉnh giác nhân gian vạn sự không, thổi khúc về làng không lỗ sáo, tịch dương lặng chiếu mây xanh hồng).” Về phía Việt Nam, trong tác phẩm Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều (1741-1798) lại có câu: “Giấc Nam Kha khéo bất bình, bừng con mắt dậy thấy mình tay không.” Hoặc trong bài Lạc Đường của Tú Xương (1871-1907) có câu: “Giấc mộng Nam Kha khéo chập chờn.” Trong Đoạn Trường Tân Thanh (Truyện Kiều) của Nguyễn Du (1765-1820) cũng có câu: “Tiếng sen sẻ động giấc hòe, bóng trăng đã xế hoa lê lại gần.” Ngoài ra, trong các bài tán cúng cầu siêu cho hương linh quá cố có bài: “Nam Kha nhất mộng đoạn, Tây Vức cửu liên khai, phiên thân quy Tịnh Độ, hiệp chưởng lễ Như Lai (南柯一夢斷、西域九蓮開、飜身歸淨土、合掌禮如來, Nam Kha giấc mộng dứt, Tây phương chín sen khai, chuyển thân về Tịnh Độ, chấp tay lễ Như Lai).”
- U quan (幽關): cõi tối tăm, u ám, thường được dùng để chỉ cho cõi Âm Ty, Địa Ngục của người chết. Trong tác phẩm Kim Bình Mai (金瓶梅), chương 66 Lan Lăng Tiếu Tiếu Sanh (蘭陵笑笑生) nhà Minh có đoạn: “Thái Ất từ tôn giáng giá lai, dạ hác u quan thứ đệ khai, đồng tử song song tiền dẫn đạo, tử hồn thọ luyện bộ vân giai (太乙慈尊降駕來、夜壑幽關次第開、童子雙雙前引導、死魂受煉步雲階, Thái Ất đức từ hạ xuống đây, hang tối cõi u dần dần khai, đồng tử hai bên trước dẫn lối, hồn chết thọ luyện lên tầng mây).” Hay như trong bài Thiền Quan Sách Tấn (禪關策進) của Vân Thê Châu Hoằng (雲棲袾宏, 1535-1615) nhà Minh có câu: “Cảnh sách tại thủ, tật khu nhi trường trì, phá tối hậu chi u quan (警策在手、疾驅而長馳、破最後之幽關, cảnh tỉnh và sách tấn vốn ở nơi tay mình, thúc chạy mau mà đuổi theo lâu dài, để phá cửa tối tăm cuối cùng).” Trong Vi Lâm Đạo Bái Thiền Sư Xan Hương Lục (爲霖道霈禪師餐香錄CBETA No. 1439) cũng có câu: “U quan đốn phá, hiển thanh tịnh quang minh chi thân; Cực Lạc cao siêu, chứng A Bệ Bạt Trí chi địa(幽關頓破、顯清淨光明之身、極樂高超、證阿鞞跋致之地, nẻo u phá sạch, bày thanh tịnh sáng suốt ấy thân; Cực Lạc lên cao, chứng A Bệ Bạt Trí cảnh địa).” Cũng như trong Tục Truyền Đăng Lục (續傳燈錄, Taishō No. 2077) quyển 19 có đoạn: “Vụ khởi giao nguyên long ngâm thành tế, phong sanh hạm ngoại hổ khiếu đình tiền, mộc đồng chàng xuất u quan, thạch nữ phách khai kim tỏa (霧起郊源龍吟城際、風生檻外虎嘯亭前、木童撞出幽關、石女擘開金鎖, sương nổi đầu nguồn rồng gầm ngoài thành, gió sanh ngoài hiên cọp thét trước đình, người gỗ đánh ra cửa u, gái đá bữa tung khóa vàng).” Câu “mộng đoạn Nam Kha, vĩnh cách u quan chi lộ (夢斷南柯、永隔幽關之路)” có nghĩa là khi giấc mộng Nam Kha chấm dứt thì vĩnh viễn cách xa con đường dẫn đến cõi u tối của Địa Ngục, âm ty.
- Tây Vức, Tây Vực (西域): tên gọi chung một dãy các nước ở phương Tây theo tri thức của người Ấn Độ xưa, phạm vi của nó không thể nào hạn định một cách nghiêm mật được. Rộng ra bao gồm cả Ấn Độ, Iran, Ai Cập hiện tại, còn về nghĩa hẹp nó ám chỉ khu vực trung ương Châu Á trong vùng bản địa Tarim của miền Nam bán bộ Tỉnh Tân Cương; ở trung tâm cao nguyên Pamir về phía Đông có các nước như Cao Xương (高昌), Quy Tư (龜茲), Sớ Lặc (疏勒), Sa Xa (莎車), Vu Chấn (于闐); về phía Tây có Giả Thời (赭時), Táp Mạt Kiến (颯秣建), Đỗ Hóa La (覩化羅), v.v. Trong Tây Vức Truyện (西域傳) của Hán Thư (漢書) có ghi khoảng hơn 30 nước phân bố trong địa khu Tây Vức, cho nên mới có thuyết “Tây Vức Tam Thập Lục Quốc (西域三十六國).” Trước khi Trương Khiên (張騫, ?-114 tdl) đả thông Tây Vức, Hung Nô (匈奴) chi phối thế lực các nước trong khu vực nầy. Đến thời Hán, phạm vị quản hạt của cơ quan hành chính Tây Vức Đô Hộ Phủ (西域都護府) có 36 nước. Sau nầy cao tăng Huyền Trang (玄奘, 602-664) có viết tác phẩm Đại Đường Tây Vức Ký (大唐西域記, Taishō No. 2087) 12 quyển. Trong Phật Giáo, Tây Vức được dùng để chỉ cho Ấn Độ, quốc độ của chư Phật, Bồ Tát. Như trong bài cúng linh có câu: “Nam Kha nhất mộng đoạn, Tây Vức cửu liên khai, phiên thân quy Tịnh Độ, hiệp chưởng lễ Như Lai (南柯一夢斷、西域九蓮開、飜身歸淨土、合掌禮如來, Nam Kha giấc mộng dứt, Tây phương chín sen khai, chuyển thân về Tịnh Độ, chấp tay lễ Như Lai).”
- Loan phòng (鸞房): phòng loan của người vợ. Trong bài kinh Huyền Thiên Thượng Đế Bách Tự Thánh Hiệu (玄天上帝百字聖號) của Đạo Giáo có quẻ xăm thứ 19, Đại Cát, tên Vân Hành Vũ Thí (雲行雨施), phần Hôn Nhân có đoạn: “Quy gia tiện bả loan phòng chỉnh, hảo thính minh cầm hữu phụng thanh, thiên phó nhân duyên cánh hòa hợp, y kim bất tất vấn tiền trình (歸家便把鸞房整、好聽鳴琴有鳳聲、天付姻綠更和合、伊今不必問前程, về nhà bèn chỉnh phòng loan tốt, khéo nghe đàn cầm có phụng reo, trời ban nhân duyên cho hòa hợp, hôm nay bất tất hỏi ngày mai).”
- Huệ trướng (蕙帳): phòng thất tràn đầy mùi hương nhè nhẹ của hoa Lan và Huệ. Huệ trướng còn là tên gọi khác rất hoa mỹ về bức màn the. Trong bài Bắc Sơn Di Văn (北山移文) của Khổng Nhã Khuê (孔稚珪, 447-501) nhà Tề, thời Nam Triều có câu: “Huệ trướng không hề dạ hộc oán, sơn nhân khứ hề hiểu viên kinh (蕙帳空兮夜鵠怨、山人去兮曉猨驚, màn the trống chừ đêm ngỗng oán, người núi đi chừ sáng vượn buồn).” Hay trong bài thơ Đề Định Lâm Bích Hoài Lý Thúc Thời (題定林壁懷李叔時) của Vương An Thạch (王安石, 1021-1086) nhà Tống lại có câu: “Liệu lô vô phục hỏa, huệ trướng lãnh không sơn (燎爐無伏火、蕙帳冷空山, đốt lò không chút lửa, màn the lạnh núi hoang).” Hoặc trong Thanh Vận Khải Mông (聲韻啟蒙) quyển 1 có đoạn rằng: “Lâu đối các, hộ đối song, cự hải đối trường giang, dung thường đối huệ trướng, ngọc giả đối ngân công (樓對閣、戶對窗、巨海對長江、蓉裳對蕙帳、玉斝對銀釭, lầu đối với gác, cửa lớn đối với cửa sổ, biển lớn đối với sông dài, áo đẹp đối với màn thơm, chén ngọc đối với bầu đồng).”
- Thệ thủy (逝水): dòng nước trôi chảy đi mãi. Như trong Tam Quốc Diễn Nghĩa (三國演義) có đoạn: “Cổn cổn Trường Giang đông thệ thủy, lãng hoa đào tận anh hùng, thị phi thành bại chuyển đầu không, thanh sơn y cựu tại, kỉ độ tịch dương hồng, bạch phát ngư tiều giang chử thượng, quán khán thu nguyệt xuân phong, nhất hồ trọc tửu hỷ tương phùng, cổ kim đa thiểu sự, đô phó tiếu đàm trung (滾滾長江東逝水、浪花淘盡英雄、是非成敗轉頭空、青山依舊在、幾度夕陽紅、白髮漁樵江渚上、慣看秋月春風、一壺濁酒喜相逢、古今多少事、都付笑談中, cuồn cuộn Trường Giang chảy về đông, trôi sạch lãng mạn anh hùng, đúng sai thành bại chuyển thành không, núi xanh vẫn như cũ, mấy độ bóng chiều hồng, bạc đầu lão chài trên sông nước, thường ngắm trăng thu gió xuân, một bầu rượu đục vui gặp gỡ, xưa nay ít nhiều chuyện, phó mặc cười thỏa thích).” Câu “Tích hồ thệ thủy trường quy, thống dã xuân hoa cấp tạ (惜乎逝水長歸、痛也春花急謝)” có nghĩa là thương tiếc thay dòng nước cứ trôi đi mãi và đau xót thay hoa xuân sớm tàn lụi; tức nói lên nỗi niềm đau thương, luyến tiếc người vợ tri kỷ sớm qua đời.
- Tuyết Sơn (s, p: Himālaya, Himavat, Himavān, t: Gaṅs-can, 雪山): còn gọi là Tuyết Lãnh (雪嶺), Đông Sơn Vương (冬山王), là rặng núi nằm phía đông bắc Ấn Độ. Xưa nay, người ta ám chỉ Tuyết Sơn không thống nhất với nhau, có khi nó là rặng Hy Mã Lạp Sơn, hoặc là rặng núi phía tây nam Thông Lãnh (葱嶺). Các quốc gia giáp giới khu vực nầy được lưu truyền Phật Giáo dưới thời đại của A Dục Vương (s: Aśoka, p: Asoka, 阿育王). Trong Thiện Kiến Luật Tỳ Bà Sa (善見律毘婆沙) quyển 2 có ghi lại rằng Đại Đức Mạt Thị Ma (p: Majjhima, 末示摩), v.v., đã từng đến vùng ven Tuyết Sơn để tuyên thuyết Sơ Chuyển Pháp Luân Kinh (初轉法輪經), làm cho người đắc đạo lên đến 8 ức, xuất gia cho 5.000 người. Vào năm thứ 15 (641) niên hiệu Trinh Quán (貞觀), khi Công Chúa Văn Thành (文成) vào Tây Tạng, đã từng đi qua rặng núi nầy. Theo Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經) quyển 14, Phẩm Thánh Hạnh (聖行品), khi còn đang tu hạnh Bồ Tát trong núi Tuyết Sơn, đức Phật được gọi là Tuyết Sơn Đại Sĩ (雪山大士), Tuyết Sơn Đồng Tử (雪山童子), Tuyết Sơn Bà La Môn (雪山婆羅門), hay gọi tắt là Tuyết Đồng (雪童). Trong bài Tống Huệ Tắc Pháp Sư Quy Thượng Đô Nhân Trình Quảng Tuyên Thượng Nhân Tinh Dẫn (送慧則法師歸上都因呈廣宣上人並引) của Lưu Vũ Tích (劉禹錫, 772-842) nhà Đường có câu: “Tuyết Sơn Đồng Tử ứng tiền thế, Kim Túc Như Lai thị bổn sư (雪山童子應前世、金粟如來是本師, Tuyết Sơn Đồng Tử ứng đời trước, Kim Túc Như Lai là bổn sư).” Hay như trong Cao Phong Long Tuyền Viện Nhân Sư Tập Hiền Ngữ Lục (高峰龍泉院因師集賢語錄, CBETA No. 1277) quyển 12 có câu: “Nghiệp quả điêu linh, tội hoa vẫn tạ, tiện đăng hải ngạn lễ Quan Âm Bồ Tát chi dung, trường hướng Tuyết Sơn thị Ma Da Phu Nhân chi trắc (業果凋零、罪花殞謝、便登海岸禮觀音菩薩之容、長向雪山侍摩耶夫人之側, nghiệp quả điêu linh, tội hoa tạ hết, bèn lên bờ biển lễ Quan Âm Bồ Tát hình dung, mãi hướng Tuyết Sơn hầu Ma Da Phu Nhân bên cạnh).”
- Phu Nhân Ma Da (s, p: Māyā, 摩耶): mẹ của đức Thế Tôn, con gái của Thiện Giác Vương (善覺王) ở Thành Câu Lợi (拘利城), vợ vua Tịnh Phạn (s: Śuddhodana, p: Suddhodana, 淨飯王) của Thành Ca Tỳ La Vệ (s: Kapilavastu, p: Kapilavatthu, 迦毘羅衛), sau khi hạ sanh đức Thế Tôn được 7 ngày, bà qua đời. Sau khi chết, bà được sanh lên cõi Trời Đao Lợi (s: Trāyastriṃśa, p: Tāvatiṃsa, 忉利). Sau ngày thành đạo, đức Phật đã lên cõi trời nầy để thuyết pháp cho mẹ mình. Như trong Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh (地藏菩薩本願經), phẩm Quán Chúng Sanh Nghiệp Duyên (觀眾生業緣) thứ 3 có đề cập đến Phu Nhân Ma Da như: “Nhĩ thời Phật mẫu Ma Da Phu Nhân, cung kính hiệp chưởng vấn Địa Tạng Bồ Tát ngôn: ‘Thánh giả, Diêm Phù chúng sanh, tạo nghiệp sai biệt, sở thọ báo ứng, kỳ sự vân hà ?’ (爾時佛母摩耶夫人、恭敬合掌問地藏菩薩言:聖者、閻浮眾生、造業差別、所受報應、其事云何, lúc bấy giờ, mẹ của đức Phật là Ma Da Phu Nhân cung kính chấp tay hỏi Bồ Tát Địa Tạng rằng: ‘Thưa bậc Thánh, chúng sanh trong cõi Diêm Phù tạo nghiệp khác nhau, chịu sự báo ứng, việc đó như thế nào ?’).” Thiên Mục Văn Lễ (天目文禮, 1167-1250), vị tăng của Phái Tùng Nguyên thuộc Lâm Tế Tông Trung Quốc, có bài tụng như sau: “Vị tằng chàng nhập Ma Da phục, lưỡng thủ tri tha thậm xứ an, tả hiếp xuất lai ma cảnh hiện, chỉ kham chù trướng bất kham khan (未曾撞入摩耶服、兩手知他甚處安、左脅出來魔境現、只堪惆悵不堪看, chưa từng đột nhập Ma Da bụng, có biết người ta chốn nào yên, vai trái ra rồi ma cảnh hiện, chỉ e rầu rĩ biết sao nhìn).”